mi4t/brain
OKF v0.2
conceptdraftVerified (1)by: opencode

Tượng (象)

Hình tượng của quẻ và của hào — thứ biểu hiện cho vật và cho tình thế, tách thành Đại Tượng cho cả quẻ và Tiểu Tượng cho từng hào, đi cùng lời Chiêm.

#kinh-dich#dich-hoc#tuong#dai-tuong#tieu-tuong#hinh-nhi

Tượng (象)

Tượng (象) là hình tượng — thứ biểu hiện cho một vật, cho một quẻ hay cho một hào. Ngô Tất Tố viết: “Tượng của quẻ và hào — tám quẻ đơn đều làm biểu hiện cho các vật ở vũ trụ, mỗi quẻ là hình tượng của một hoặc nhiều vật” 1. Trình Di nói thẳng lý do phải có Tượng: “Lý vốn là vật vô hình, nên phải mượn Tượng làm cho rõ nghĩa” — Kiền lấy con rồng làm Tượng 1.

Một hào làm hai việc: Tượng và Chiêm

Chu Hy: một hào “thường làm hai thứ, là Tượng và Chiêm. Tượng là hình tượng. Chiêm là lời đoán”. Ở hào Sơ Cửu quẻ Kiền, câu “Rồng lặn chớ dùng” tách làm hai: “rồng lặn” là Tượng (Kiền tượng con rồng, ngôi Đầu rất thấp nên là tượng của sự lặn), “chớ dùng” là Chiêm. Tượng “tùy quẻ tùy hào mà hình dung ra, không có nhất định”; trong 384 hào, nhiều hào có Tượng mà không có Chiêm, cũng nhiều hào có Chiêm mà không có Tượng 1.

Đại Tượng và Tiểu Tượng

Ngô Tất Tố định nghĩa: “Tượng truyện thích hình tượng của các quẻ và các hào, tức là những câu dưới chữ ‘Lời Tượng nói rằng’; thích chung cả quẻ gọi là Đại Tượng, thích riêng từng hào gọi là Tiểu Tượng” 1. Trong chú thích quẻ Kiền, ông tách rõ: từ câu “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” trở xuống là Đại tượng, “thích dùng tất cả quẻ Kiền”; từ “Tiềm long vật dụng” trở xuống là Tiểu tượng, “thích riêng từng hào” 1.

Câu hào Kiền Sơ Cửu tách thành Tượng và Chiêm; Đại Tượng bao quanh sáu Tiểu Tượng.
Hai tầng của Tượng truyện, và cách một câu lời hào tách đôi thành Tượng cùng Chiêm.

Vì sao lời hào cũng gọi là Lời Tượng

Lời Hào vẫn giữ tên ấy “vì nó phần nhiều đều căn cứ vào hình tượng của các hào” 1. Về thể thức: đến đời Hán, Phi Trực mới đem Tượng truyện gộp vào các quẻ; Chu Hy xếp lại như cũ nhưng “người ta không theo”, nên bản thịnh hành vẫn xen Tượng truyện vào giữa các quẻ 1.

Trong cách đọc của Thu Giang

Q. Thượng mở mỗi quẻ bằng dòng Tượng (quẻ 1 Kiền: “Tượng: con Rồng”), Tiểu Tượng có “Tượng viết” cho từng hào, và tác giả hay dừng ở lời Tượng để nói tới tầng Hình nhi thượng 2. Cuốn Dịch Tượng Luận chuyên về phần này thì kho chưa có.

Liên quan

  • Hào từ (爻辭) — lời Hào chính là nơi Tượng và Chiêm cùng xuất hiện.
  • Hào (爻) — hào có Tượng khi hợp thành quẻ; Tượng và Chiêm.
  • Quẻ (卦) — tám quẻ đơn là những tượng của vũ trụ.
  • Kinh Dịch — khung Hình nhi thượng/hạ học, kỷ luật trích dẫn.

Footnotes

  1. data/processed/kinhdich.txt — Ngô Tất Tố, Kinh Dịch Trọn Bộ, mục “Khái luật của Kinh Dịch”; quẻ Kiền (Truyện Trình Di, Bản nghĩa Chu Hy, chú thích [16]). ↩ ↩2 ↩3 ↩4 ↩5 ↩6 ↩7

  2. data/processed/kinh-dich/thuong/ — Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Dịch Kinh Tường Giải Q. Thượng (NXB Trẻ, 2014), quẻ 1 Kiền. ↩