Bói mai rùa (龜卜)
Bói mai rùa (龜卜 - Quy bốc) là phép bói thời Ân Thương, nung yếm rùa hoặc xương thú để lấy vết rạn định lành dữ. Chữ Bốc (卜) vừa tượng hình nét rạn vừa tượng thanh tiếng nứt; cùng bói cỏ thi (Thệ) hợp thành thuật Bốc phệ 1.
Nung giáp cốt và vết rạn Triệu
Phép quy bốc gồm mài phẳng yếm rùa, khoét rãnh ở mặt trong (toan, tạc), rồi dí thanh đồng nung đỏ vào (chước). Nhiệt làm mặt ngoài nứt thành chữ 卜 gọi là Triệu (兆) 1. Quan bốc căn cứ hướng rạn để đoán cát hung rồi khắc Bốc từ lên mai 2.
Dấu ấn rùa trong Kinh Dịch
Dù Dịch Kinh dùng cỏ thi, tượng rùa vẫn xuất hiện ở các vị trí cốt lõi:
- Linh quy (quẻ Di): Hào Sơ Cửu chép “Xả nhĩ linh quy, quan ngã đóa di, hung” 1. Thu Giang giảng linh quy là rùa nuốt khí (quy tức), tượng người tự túc linh giác; bỏ báu vật tự thân để mong cầu ngoài ắt hung 3.
- Thập bằng chi quy (quẻ Tổn & Ích): Quẻ Tổn (Lục Ngũ) và Ích (Lục Nhị) đều ghi “Thập bằng chi quy phất khắc vi” 1. Chu Hy giải rùa là vật quyết đoán điều ngờ; mười bằng là báu lớn. Hợp chính lý thì bói rùa cũng chẳng thể trái 1 4.
- Tượng quẻ Ly: Mai rùa ngoài cứng trong mềm, ứng với thể trung hư 1.
Từ Quy bốc sang Chiêm thệ
Thời Thương sùng quy bốc thần quyền. Sang đời Chu, quan Thái bốc coi cả Tam Bốc lẫn Tam Dịch 1; thiên Hồng Phạm đặt Bốc và Thệ vào mục “Kê nghi” 2. Chuyển từ nung rùa sang cỏ thi 50 cọng là bước tiến từ vu thuật ngẫu nhiên sang hệ thống lý số trừu tượng 1.
Thu Giang cảnh báo thói “thầy bói mu rùa” trục lợi 3. Bốc phệ chân chính cốt ở “linh tại ngã” — khơi dậy linh giác nội tại để định vị bản thân và xu cát tị hung 4.
Ghi chú thứ cấp (ngoài kho)
Giáp cốt văn Ân Khư xác nhận cấu trúc Bốc từ gồm: Tiền từ, Mệnh từ, Chiêm từ, và Nghiệm từ 2.
Liên quan
- Kinh Dịch — Hình nhi thượng/hạ học.
- Bói cỏ thi (筮法) — 50 cọng cỏ thi, đối sánh với quy bốc.
- Tượng (象) — Tượng mai rùa ở quẻ Ly, Di, Tổn, Ích.
- Quẻ (卦) — Cấu tạo quẻ và thời kỳ.
- Hào từ (爻辭) — Điển cố rùa thiêng trong lời hào.
Footnotes
-
data/processed/kinhdich.txt— Ngô Tất Tố, quẻ Di (Sơ Cửu), Tổn (Lục Ngũ), Ích (Lục Nhị), và khảo luận quan Thái bốc trong Dịch thuyết cương lĩnh. ↩ ↩2 ↩3 ↩4 ↩5 ↩6 ↩7 ↩8 -
Hồng Phạm — Kê nghi — Thượng Thư; và khảo chứng cấu trúc Bốc từ Giáp cốt văn. ↩ ↩2 ↩3
-
data/processed/kinh-dich/thuong/— Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Dịch Kinh Tường Giải Q. Thượng, bài mở đầu và quẻ Sơn Lôi Di. ↩ ↩2 -
data/processed/kinh-dich/ha/— Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Dịch Kinh Tường Giải Q. Hạ, quẻ Sơn Trạch Tổn và bài bế mạc về linh giác. ↩ ↩2